Văn kiện cơ bản của WTO

Phụ lục 1C - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

          Hiệp định này thừa nhận rằng nguyên nhân của những căng thẳng không ngừng trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế xuất phát từ các tiêu chuẩn đa dạng trong việc bảo hộ và các thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như việc thiếu một cơ cấu đa phương các nguyên tắc, quy tắc và trật tự nhằm xử lý các hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến hàng giả. Vì thế, việc quy định những quy tắc và nguyên tắc mới là cần thiết để giải quyết những căng thẳng này. Với mục đích như vậy, hiệp định đã mở ra khả năng áp dụng các nguyên tắc cơ bản của GATT và của các thỏa ước, Công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ; điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ đầy đủ, điều khoản về các thủ tục thực thi hữu hiệu cho những quyền này; giải quyết tranh chấp đa phương; và các quy định chuyển tiếp.

          Phần I của hiệp định đưa ra các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản, đặc biệt là cam kết đối xử quốc gia mà theo đó các công dân của các nước thành viên phải được đối xử không kém ưu đãi hơn so với công dân của các chính nước thành viên đó về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Phần này cũng đưa ra điều khoản đối xử tối huệ quốc, là một điều khoản mới trong thỏa thuận sở hữu hữu trí tuệ quốc tế, theo đó bất kỳ thuận lợi nào mà một thành viên dành cho các công dân của một thành viên khác cũng phải được ngay lập tức và vô điều kiện áp dụng cho công dân của tất cả các thành viên khác, ngay cả khi sự đối xử này ưu đãi hơn đối xử mà mà thành viên đó dành cho chính công dân của nước mình.

          Phần II nêu rõ về nội dung từng quyền sở hữu trí tuệ. Liên quan đến vấn đề bản quyền, các thành viên phải tuân thủ các điều khoản hiện tại của Công ước Berne về việc bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật, bản mới nhất (Pari 1971), mặc dù các điều khoản này không áp dụng để bảo vệ các quyền về đạo đức được quy định trong điều 6 của công ước đó. Hiệp định đảm bảo rằng các chương trình máy tính sẽ được bảo hộ giống như các tác phẩm văn học theo Công ước Berne và đưa ra các phạm vi để các cơ sở dữ liệu này được bảo vệ bản quyền. Những điều khoản quan trọng mới thêm vào so với các quy tắc quốc tế hiện tại trong lĩnh vực bản quyền và các quyền liên quan chính là các điều khoản về quyền cho thuê. Bản dự thảo quy định các tác giả chương trình máy tính và các nhà sản xuất các tác phẩm thu âm có quyền cho phép hoặc cấm việc thuê thương mại các tác phẩm của họ để đưa ra công chúng. Một đặc quyền tương tự cũng được áp dụng đối với các tác phẩm điện ảnh nếu việc cho thuê thương mại đã dẫn đến sự sao chép tràn lan làm suy yếu độc quyền sao chép. Bản dự thảo cũng quy định các nghệ sỹ biểu diễn được bảo hộ khỏi việc phát thanh và thu âm không bản quyền trong các buổi biểu diễn trực tiếp của mình. Thời hạn bảo vệ cho các nghệ sỹ biểu diễn và các nhà sản xuất thu âm là không dưới 50 năm. Các tổ chức phát thanh truyền hình cũng có quyền kiểm soát việc sử dụng các chương trình phát thanh truyền hình mà có thể bị vi phạm bản quyền. Quyền này sẽ kéo dài trong vòng ít nhất là 20 năm.

          Liên quan đến vấn đề nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ, hiệp định quy định các loại dấu hiệu phải có đủ khả năng để được bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ và quy định những quyền tối thiểu mà người sở hữu phải đạt được . Với những nhãn hiệu đã nổi tiếng ở một nước nào đó sẽ càng được bảo hộ. Bên cạnh đó, hiệp định cũng đưa ra những nghĩa vụ liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu, thời hạn bảo hộ và việc cấp li-xăng (chuyển giao quyền sử dụng) hay việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu. Ví dụ, những yêu cầu sử dụng kết hợp nhãn hiệu nước ngoài với một nhãn hiệu nội địa nào đó nhìn chung là sẽ bị cấm.

          Về vấn đề chỉ dẫn địa lý, hiệp định quy định rằng các thành viên phải có các biện pháp để ngăn ngừa việc sử dụng bất cứ chỉ dẫn nào khiến khách hàng hiều nhầm về nguồn gốc của hàng hóa và bất kỳ hành vi sử dụng nào có thể cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Một mức độ bảo hộ cao hơn được áp dụng cho chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang và rượu mạnh, khi mà nó được bảo hộ ngay cả trong trường hợp  chưa hề có nguy cơ về việc công chúng sẽ hiểu sai về xuất xứ thực . Ngoại lệ được cho phép với những tên gọi đã trở thành thuật ngữ chung, nhưng bất kỳ nước thành viên nào sử dụng ngoại lệ này phải sẵn sàng tham gia đàm phán nhằm bảo vệ chỉ dẫn địa lý khi có yêu cầu. Hơn nữa, các điều khoản phải được đưa ra đàm phán thêm để hình thành nên một hệ thống đa phương để thông báo và đăng ký các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang.

          Theo như hiệp định, kiểu dáng công nghiệp cũng được bảo vệ với thời gian 10 năm. Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ có thể ngăn cấm việc sản xuất, bán hàng hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc thể hiện  một kiểu dáng là bản sao của kiểu dáng được bảo hộ đó.

         Về vấn đề bằng sáng chế, các bên có chung một nghĩa vụ phải tuân thủ những điều khoản hiện hữu của công ước Pari (1967). Thêm vào đó, hiệp định yêu cầu thời hạn bảo hộ không được kết thúc trước khi hết 20 năm áp dụng với tất cả các phát minh, dù là sản phẩm hay quy trình, trong mọi lĩnh vực công nghệ. Các thành viên có thế loại trừ không cấp bằng sáng chế nếu việc khai thác nhằm mục đích thương mại bị cấm vì lý do bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội; tuy nhiên được phép loại trừ đối với các  phương pháp chẩn đoán bệnh, phương pháp nội và ngoại khoa, và đối với thực vật  và động vật (không phải các chủng vi sinh), và các quy trình sản xuất thực vật và động vật , chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các giống cây phải được bảo hộ bằng hoặc các hệ thống sáng chế hoặc hệ thống riêng hữu hiệu (ví dụ như quyền của người gây giống trong công ước UPOV). Các điều kiện chi tiết được quy định đối với việc cấp li-xăng bắt buộc và trường hợp sử dụng của chính phủ đối với bằng sáng chế mà không được phép của chủ sở hữu bằng sáng chế đó. Những quyền áp dụng với bằng sáng chế quy trình phải là những sản phẩm trực tiếp thu được từ quy trình đó; trong những trường hợp nhất định, những người bị nghi vi phạm có thể bị triệu tập ra tòa để chứng minh rằng họ không sử dụng quy trình đã được cấp bằng sáng chế.

          Về việc thiết kế (đo vẽ) vi mạch, hiệp định quy định các thành viên phải bảo hộ trên cơ sở của Hiệp ước Oa-sinh-tơn được ký tháng 5 năm 1989, nhưng với một số quy định bổ sung: thời hạn bảo hộ tối thiểu là 10 năm; các quyền này phải bao gồm cả những điều khoản xử lý những thiết kế bố trí vi phạm; những người vi phạm mà không biết mình vi phạm được phép sử dụng hoặc bán hàng hóa đã tiếp nhận hoặc đã đặt trước thời điểm biết việc vi phạm nhưng phải trả một khoản tiền bản quyền hợp lý: và trường hợp sử dụng của chính phủ và việc sử dụng li-xăng không tự nguyện chỉ được cho phép kèm theo rất nhiều điều kiện nghiêm khắc.

          Bí mật và bí quyết kinh doanh có giá trị thương mại phải được bảo vệ khỏi bị xâm phạm hoặc những hành động khác trái với thông lệ thương mại trung thực. Những dữ liệu thử nghiệm trình nộp chính phủ để xin phê chuẩn tiếp thị dược phẩm và các sản phẩm hóa nông cũng phải được bảo vệ để không bị sử dụng trong thương mại một cách không lành mạnh.

          Vấn đề cuối cùng của trong phần này đề cập đến việc quản lý các quy định chống cạnh tranh trong các hợp đồng li-xăng. Việc này phải được thương lượng với chính phủ về  các thông lệ và điều kiện mua bán li-xăng đi kèm với các quyền sở hữu trí tuệ có thể gây nên sự lạm dụng những quyền này và tạo ảnh hưởng tiêu cực đối với cạnh tranh. Các biện pháp phòng ngừa đối với việc lạm dụng này phải phù hợp các với các điều khoản khác của hiệp định.

          Phần III của hiệp định đặt ra nghĩa vụ cho chính phủ các nước thành viên về việc chuẩn bị thủ tục và các biện pháp phòng ngừa đối với luật trong nước để đảm bảo rằng quyền sở hữu trí tuệ được thực thi một cách hiệu quả bởi những chủ thể quyền nước ngoài cũng như chính công dân của các chính phủ này. Các thủ tục này cần quy định những biện pháp hợp pháp, hiệu quả đối với việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng cần phải đúng đắn và công bằng, không được phức tạp và tốn kém không cần thiết, và không được đưa ra những thời hạn bất hợp lý và những trì hoãn vô thời hạn. Những quy định này cũng sẽ cho phép việc rà soát của các cơ quan tư pháp  về các quyết định hành chính cuối cùng. Phần này không quy định nghĩa vụ thiết lập một hệ thống tư pháp để thực thi quyền sỏ hữu trí tuệ tách biệt với hệ thống tư pháp để thực thi luật nói chung, và cũng không cần ưu tiên cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong việc phân bổ các nguồn lực.

          Các thủ tục và biện pháp chế tài dân sự và hành chính trong hiệp định gồm có các điều khoản về chứng cứ, lệnh của tòa án, bồi thường thiệt hại và các chế tài khác bao gồm cả các quyền của cơ quan xét xử trong việc xử lý hoặc tiêu hủy những hàng hóa vi phạm. Cơ quan xét xử cũng phải có quyền áp dụng những biện pháp tạm thời có hiệu quả và ngay lập tức, đặc biệt khi việc trì hoãn có thể gây ra những hậu quả không khắc phụ được cho chủ thể quyền hoặc khi chứng cứ có nguy cơ bị thủ tiêu. Các điều khoản tiếp theo liên quan đến các biện pháp cần được áp dụng đối với việc đình chỉ thông quan những hàng hóa giả mạo và vi phạm bản quyền tại các cơ quan hải quan, để ngăn chặn những hàng hóa này vào lưu thông trong nước. Cuối cùng, các nước thành viên phải có những thủ tục và chế tài hình sự ít nhất trong những trường hợp giả mạo nhãn hiệu và vi phạm bản quyền một cách cố ý trên bình diện thương mại. Các biện pháp cần phải bao gồm cả hình thức bỏ tù và phạt vi phạm đủ để ngăn chặn vi phạm.

          Hiệp định sẽ thành lập một hội đồng về những vấn đề thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ để điều hành việc thực thi hiệp định và sự tuân thủ của các thành viên đối với hiệp định. Giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành theo thủ tục giải quyết tranh chấp của hiệp định GATT đã được sửa lại trong vòng đàm phán Uruguay.

          Về vấn đề triển khai hiệp định, quy định thời gian chuyển đổi 1 năm cho các nước phát triển đưa các luật và các thông lệ vào áp dụng. Các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có thời gian chuyển đổi là 5 năm, các nước kém phát triển là 11 năm. Các nước đang phát triển hiện tại không có bảo hộ sáng chế sản phẩm trong lĩnh vực công nghệ sẽ phải cần 10 năm để triển khai bảo hộ. Tuy nhiên, đối với dược phẩm và hóa nông phẩm, đối với dược phẩm và hóa nông phẩm, sẽ phải chấp nhận phương thức nộp đơn ngay từ đầu thời kỳ chuyển đổi. Mặc dù bằng sáng chế không cần phải được công nhân cho tới cuối kỳ, tính mới của sáng chế sẽ được bảo vệ từ ngày nộp đơn. Nếu được phép tiếp thị dược phẩm hoặc hóa nông phẩm có liên quan, nước đang phát triển liên quan phải cấp quyền tiếp thị độc quyền sản phẩm trong 5 năm, hoặc cho tới khi quyền sáng chế sản phẩm được công nhận, tùy theo thời hạn nào ngắn hơn.

         Tùy theo một số ngoại lệ nhất định, những nghĩa vụ trong hiệp định sẽ áp dụng đối với quyền sở hữu trí tuệ hiện tại cũng như những quyền sở hữu trí tuệ mới.

 

Văn bản hiệp định:

Phụ lục 1C - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

Câu hỏi thường gặp:

Quyền sở hữu trí tuệ (intellectual property – thực chất là các “tài sản trí tuệ”) là từ được sử dụng để chỉ các quyền đối với các sản phẩm trí tuệ.
Các quyền này được chia thành các nhóm chính theo Bảng 1 dưới đây. Trong rất nhiều trường hợp các quyền này gắn với giá trị vật chất, có thể mua bán, trao đổi thương mại nên hầu hết các nước đều có quy định để bảo hộ các quyền này nhằm bảo đảm lợi ích của người có quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại liên quan.
Đối tượng của các quyền sở hữu trí tuệ  bao gồm hai nhóm:

  • Nhóm sản phẩm nhấn mạnh đến tính sáng tạo, tri thức: Bao gồm Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; Phát minh sáng chế; Kiểu dáng công nghiệp
  • Nhóm các sản phẩm tuy không mang nhiều tính sáng tạo nhưng cần thiết được bảo hộ để tạo điều kiện phân biệt sản phẩm: Bao gồm Nhãn hiệu hàng hóa; Nhãn hiệu dịch vụ; Tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề mà các doanh nghiệp có nghiên cứu và phát triển các sản phẩm trí tuệ cần quan tâm đặc biệt nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích của mình. Đối với các doanh nghiệp khác, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa với nguồn lực dành cho khoa học công nghệ hạn chế, mức độ thực thi bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam và các nước cũng là điều rất đáng quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng công nghệ và các sản phẩm trí tuệ khác của các doanh nghiệp.

Bảng 1 – Quyền sở hữu trí tuệ - Tóm tắt về các hình thức bảo hộ, đối tượng bảo hộ, lĩnh vực áp dụng chủ yếu

Nhóm quyền sở hữu trí tuệ

Loại quyền sở hữu trí tuệ

Đối tượng bảo hộ

Lĩnh vực áp dụng chủ yếu

Quyền sở hữu công nghiệp
(Industrial Properties)

Bằng phát minh sáng chế (li-xăng) (Patent)

Các sáng chế mới, có tính sáng tạo và có khả năng ứng dụng công nghiệp

Các ngành sản xuất

 

Bằng sáng chế hữu dụng (Utility model)

Sáng chế hữu dụng (quy mô nhỏ)

Các ngành sản xuất

 

Kiểu dáng công nghiệp (Industrial design)

Kiểu dáng mang tính trang trí sử dụng cho sản phẩm công nghiệp

Các ngành quần áo, ô tô, mô tô, sản phẩm điện tử

 

Nhãn hiệu hàng hóa (Trademark)

Dấu hiệu hoặc biểu tượng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa/dịch vụ của doanh nghiệp khác

Tất cả các ngành

 

Chỉ dẫn địa lý (Geographical indication)

Xác định địa phương xuất xứ của hàng hóa mà chất lượng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa gắn liền với địa phương đó

Các ngành công nghiệp thực phẩm và nông sản (đặc biệt ngành sản xuất rượu vang và các đồ uống có cồn)

Quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật
(Literary and artistic property)

Quyền tác giả và các quyền liên quan (copyrights and neighbouring rights)

Công trình sáng tạo của tác giả và các đống góp liên quan của người biểu diễn, nhà sản xuất ghi âm, tổ chức phát hành

Các lĩnh vực in ấn, giải trí (hình, video, phim ảnh), phần mềm, phát thanh truyền hình

 

Quyền đối với giống cây trồng, vật nuôi (Breeder’s rights)

Các loại giống mới, ổn định, thuần nhất và có thể phân biệt được

Công nghiệp thực phẩm và nông sản

 

Quyền đối với bố trí mạch tích hợp (Integrated circuits)

Sơ đồ thiết kế gốc

Công nghiệp vi điện tử

Quyền đối với Bí mật kinh doanh (Trade secrets)

Bí mật kinh doanh (Trade secrets)

Thông tin về kinh doanh mang tính bí mật

Tất cả các ngành

Quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực riêng biệt, mang tính chuyên môn và không phải lúc nào cũng gắn với thương mại. Tuy nhiên, các quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như quá trình thực thi việc bảo hộ này trong nhiều trường hợp lại có ảnh hưởng lớn đến việc lưu chuyển, mua bán, sử dụng các sản phẩm trí tuệ.
Ví dụ nếu một nước không bảo hộ hoặc bảo hộ lỏng lẻo các quyền sở hữu trí tuệ thì sẽ dẫn tới việc khuyến khích hàng giả, hàng nhái, gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền hay người giữ quyền hợp pháp, khiến các nhà đầu tư và kinh doanh e ngại trong việc nghiên cứu, đưa sản phẩm vào thị trường hoặc đầu tư sản xuất. Ngoài ra nếu mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ riêng thì sẽ rất phức tạp và gây ra cản trở lớn cho hoạt động thương mại quốc tế.
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (sau đây gọi là TRIPS) được thiết lập với mục tiêu tạo ra một mức chuẩn tương đối trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở tất cả các nước thành viên, cụ thể:

  • Tạo ra những nguyên tắc khung, những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp thực thi quyền này;
  • Xác định lộ trình bắt buộc thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ này ở mỗi nước (có tính đến hoàn cảnh thực tế của mỗi nước).

Hộp 1 - Sự khác nhau giữa TRIPS và các công ước về quyền sở hữu trí tuệ
Trước khi TRIPS ra đời, đã có một loạt các công ước về các quyền sở hữu trí tuệ được xây dựng và ký kết (chủ yếu trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO).
TRIPS được xây dựng trên cơ sở các công ước này bằng cách đưa vào quy định của mình phần lớn các điều khoản của các công ước này (TRIPS không nêu lại quy định mà là dẫn chiếu đến các công ước đó).
Điểm khác chủ yếu của TRIPS so với các công ước này là:

  • Phạm vi các loại quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong TRIPS rộng hơn, bao quát hơn (còn các công ước thì mỗi công ước thường chỉ tập trung vào một hoặc một vài đối tượng sở hữu trí tuệ);
  • TRIPS chỉ tập trung vào các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ chứ không phải là tất cả các nội dung của các quyền này;
  • TRIPS chỉ quy định ngưỡng bảo hộ tối thiểu cho từng loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, các nước có thể quy định mức bảo hộ cao hơn miễn là không trái các nguyên tắc trong TRIPS.

Hiệp định TRIPS bao gồm 05 nhóm nguyên tắc mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ (theo lộ trình), bao gồm:

  1. Nhóm các nguyên tắc cơ bản và nghĩa vụ chung;
  2. Nhóm các tiêu chuẩn về mức độ bảo hộ tối thiểu phải tuân thủ liên quan đến:
    • Đối tượng được bảo hộ;
    • Các quyền được hưởng;
    • Các ngoại lệ được phép đối với các quyền nói trên;
    • Thời hạn bảo hộ.
  3. Nhóm các quy định về thực tiễn chống cạnh tranh liên quan đến các hợp đồng li-xăng;
  4. Các thủ tục và biện pháp khắc phục nội địa nhằm thực thi việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ;
  5. Các thỏa thuận về lộ trình thực hiện các nguyên tắc của Hiệp định đối với từng nước.

Tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong TRIPS là nghĩa vụ bắt buộc đối với các nước thành viên WTO. Doanh nghiệp lại là đối tượng chịu tác động của các quy định mà các nước này ban hành để thực hiện TRIPS. Vì vậy doanh nghiệp cũng cần có hiểu biết cơ bản về TRIPS để định hướng biện pháp thích hợp bảo vệ các lợi ích của mình cũng như xác định chiến lược kinh doanh thích hợp trong những trường hợp khác. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây chỉ là các tiêu chuẩn tối thiểu, trên thực tế, mức độ bảo hộ ở từng nước thành viên WTO có thể cao hơn, phức tạp hơn nhiều.

Theo quy định của TRIPS, việc ban hành và thực thi các biện pháp bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

  1. Đối xử quốc gia (NT):

    Nước thành viên WTO phải dành cho các chủ thể nước ngoài hưởng sự bảo hộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm cả việc cho hưởng, duy trì, thực thi…) không kém thuận lợi hơn sự bảo hộ dành cho công dân nước mình.

  2. Đối xử tối huệ quốc (MFN)
  3. Nước thành viên WTO phải dành cho các chủ thể nước ngoài sự bảo hộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ như nhau (không được ưu tiên chủ thể thuộc nước này hơn các chủ thể thuộc nước khác hoặc ngược lại).

Bằng sáng chế là một trong những nội dung bảo hộ quan trọng hàng đầu của TRIPS bởi quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế gắn liền với những lợi ích thương mại lớn và có mặt trong hầu hết các ngành sản xuất hiện đại.
TRIPS quy định về những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu đối với bằng sáng chế như sau:
Về đối tượng được bảo hộ
Bằng sáng chế chỉ được cấp cho các sáng chế (sản phẩm sáng tạo) đáp ứng các điều kiện sau:

  • Phải có tính mới;
  • Phải có tính sáng tạo;
  • Phải có khả năng ứng dụng công nghiệp.

Những sáng chế này có thể liên quan đến sản phẩm, hoặc cũng có thể là các quy trình (bao gồm cả quy trình sản xuất ra sản phẩm) trong tất cả các lĩnh vực sản xuất trừ một số ít ngoại lệ.

Hộp 2 - Các trường hợp có thể từ chối không cấp bằng sáng chế
Để khuyến khích các nước sử dụng hệ thống bảo hộ riêng trong Công ước về bảo vệ giống cây trồng UPOV, TRIPS cho phép các nước thành viên có thể không bảo hộ dưới hình thức bằng sáng chế các đối tượng sau:
  • Các phương pháp phẫu thuật, điều trị, chẩn đoán dùng trong điều trị cho người và động vật;
  • Các phát minh về cây trồng hoặc vật nuôi (ngoài các hình thái vi sinh);
  • Các quy trình sinh học cần thiết để tạo cây trồng, vật nuôi trừ các quy trình phi sinh học và vi sinh.

Chú ý: Những trường hợp nói trong Hộp này có thể là hoặc không là đối tượng của bằng sáng chế tùy theo quy định của mỗi nước (chứ không nhất thiết phải loại trừ ra khỏi phạm vi đối tượng của bằng sáng chế). Ngoài ra, ngay cả khi một nước quyết định không bảo hộ những đối tượng này theo chế độ bằng sáng chế thì vẫn có thể bảo hộ dưới một hình thức mà mình cho là thích hợp, nếu muốn.

Nội dung bảo hộ
Chủ sở hữu bằng sáng chế được bảo hộ độc quyền đối với sáng chế của mình. Các nhà sản xuất muốn sử dụng các sáng chế đã được cấp bằng bảo hộ thì phải được chủ sở hữu bằng đồng ý (thường thông qua hợp đồng li-xăng và phải trả một khoản phí gọi là phí li-xăng cho chủ sở hữu).

Hộp 3 - Sử dụng sáng chế
Theo TRIPS, việc sử dụng các sáng chế đã được bảo hộ phải được sự đồng ý của chủ sở hữu. “Việc sử dụng” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm:
  • Đối với sáng chế là “sản phẩm”: việc sản xuất, tạo ra, bán hoặc nhập khẩu sản phẩm đó
  • Đối với sáng chế là “quy trình”: việc dùng quy trình, bán hoặc nhập khẩu sản phẩm sản xuất ra từ quy trình đó

Những hạn chế đối với độc quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế
(i) Những trường hợp có thể sử dụng bằng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu:

  • Các tình thế khẩn cấp quốc gia; các tình huống đặc biệt khẩn cấp (ví dụ sử dụng thuốc chống lại dịch bệnh khẩn cấp…);
  • Các trường hợp không sử dụng vào mục đích thương mại;
  • Các trường hợp bắt buộc cho phép sử dụng sáng chế (việc cho phép này có thể được cơ quan có thẩm quyền thực hiện nếu (i) chủ sở hữu bằng sáng chế cố ý từ chối không cho phép sử dụng sáng chế bằng cách đặt ra những điều kiện bất hợp lý và (ii) tuân thủ một số điều kiện mà TRIPS quy định).

Với những trường hợp này, chủ sở hữu phải được thông báo về việc sử dụng sáng chế liên quan.
(ii) Công bố thông tin về sáng chế khi hết thời hạn bảo hộ
Việc bảo hộ sáng chế (thông qua bằng sáng chế) chỉ có thời hạn nhất định (tùy theo quy định của từng nước). Hết thời hạn này, chủ sở hữu bằng sáng chế phải:

  • Công bố thông tin về sáng chế;
  • Tạo điều kiện để những người có khả năng kỹ thuật hiểu và sử dụng thông tin này để nghiên cứu thêm hoặc ứng dụng công nghiệp.

Thời hạn bảo hộ tối thiểu
TRIPS quy định sáng chế đã đăng ký phải được bảo hộ trong thời gian tối thiểu là 20 năm kể từ ngày đăng ký. Thời hạn cụ thể do từng nước tự quy định.

Đối tượng được bảo hộ
Đối tượng bảo hộ của quyền tác giả và các quyền liên quan bao gồm các tác phẩm thuộc lĩnh vực:

  • Văn học;
  • Nghệ thuật;
  • Khoa học (chương trình vi tính, cơ sở dữ liệu).

Tuy nhiên, không phải bất kỳ tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật nào cũng được bảo hộ. Để được bảo hộ, tác phẩm phải là nguyên tác (ý tưởng trong tác phẩm không nhất thiết phải là mới nhưng loại hình biểu hiện phải là nguyên bản sáng tạo của tác giả).
Nội dung bảo hộ
(i) Đối với quyền tác giả
Người có quyền tác giả được bảo hộ có quyền không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình nếu không được mình cho phép. Sau đây là các trường hợp cho phép sử dụng tác phẩm (thông qua việc chuyển giao quyền, thường là với một mức phí nhất định trả cho người sở hữu quyền tác giả):

  • Quyền xuất bản: sao chép và xuất bản tác phẩm
  • Quyền biểu diễn: biểu diễn tác phẩm trước công chúng
  • Quyền ghi âm, ghi hình: ghi lại tiếng/hình ảnh bằng kỹ thuật chuyên môn;
  • Quyền về hình ảnh phim: làm phim
  • Quyền phát sóng: phát sóng tác phẩm qua radio hoặc truyền hình
  • Quyền chuyển thể hoặc dịch thuật: dịch tác phẩm sang ngôn ngữ khác hoặc chuyển thể tác phẩm từ loại hình này sang loại hình khác.

Chú ý là các nội dung của quyền tác giả không chỉ bao gồm các quyền về kinh tế (quyền chuyển giao được và có thể thu phí khi chuyển giao, còn gọi là quyền tài sản) mà còn bao gồm các quyền về nhân thân. Vì vậy ngay cả khi đã chuyển giao một số quyền kinh tế (ví dụ đã cho phép chuyển thể tác phẩm) nhưng tác giả vẫn có thể đòi lại quyền sử dụng tác phẩm nếu không đồng ý với các hình thức bóp méo hay làm tổn hại tới tiếng tăm của tác phẩm.
(ii) Các quyền liên quan đến quyền tác giả
Tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật thường không tự mình phổ biến tác phẩm của mình đến công chúng mà thường phải thông qua những người trung gian. Những người này sẽ sử dụng kỹ năng chuyên môn để thể hiện và chuyển tải các tác phẩm này đến công chúng (ví dụ ca sỹ trình bày bài hát, nhạc công trình bày một tác phẩm âm nhạc…). Và những trường hợp này cũng được bảo hộ quyền, gọi là quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm:

  • Quyền của người biểu diễn (đối với việc biểu diễn của họ);
  • Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm (đối với tác phẩm ghi âm của họ);
  • Quyền của tổ chức phát sóng (đối với các chương trình truyền hình hoặc radio của họ).

Thời hạn bảo hộ tối thiểu
TRIPS quy định các thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với quyền tác giả và các quyền liên quan theo Bảng sau đây (thời hạn cụ thể do nước thành viên tự quy định)
Bảng 2 – Thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với cqcs quyền tác giả và quyền liên quan

Đối tượng bảo hộ

Thời gian bảo hộ tối thiểu

Quyền tác giả

Đời tác giả cộng với 50 năm

Tác phẩm điện ảnh

50 năm sau khi tác phẩm đó được công bố trước công chúng (trường hợp không được công bố thì tính từ thời điểm tác phẩm đó hoàn thành)

Tác phẩm nhiếp ảnh (hoặc nghệ thuật ứng dụng)

25 năm sau khi tác phẩm hoàn thành

Người biểu diễn hoặc sản xuất bản ghi âm

50 năm kể từ cuối năm đĩa hát hoặc chương trình đó được thực hiện

Phát thanh truyền hình

20 năm kể từ ngày kết thúc năm dương lịch diễn ra chương trình phát thanh/truyền hình đó

Thương hiệu là một hoặc tập hợp các ký hiệu để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hóa/dịch vụ của doanh nghiệp khác. Các ký hiệu này có thể là chữ, ký tự, đường nét, màu sắc...
Trên thực tế, các thương hiệu được sử dụng rộng rãi và không buộc phải đăng ký. Tuy nhiên, được bảo hộ theo pháp luật thì thương hiệu phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều kiện để được bảo hộ

  • Thương hiệu phải đảm bảo yêu cầu “có thể phân biệt được” (để đảm bảo mục tiêu phân biệt hàng hóa/dịch vụ mang thương hiệu này với hàng hóa/dịch vụ cùng tính chất nhưng mang thương hiệu
  • Người đăng ký phải nêu rõ đặc điểm của hàng hóa/dịch vụ mang thương hiệu;

Nội dung bảo hộ
Người có thương hiệu được bảo hộ có quyền cấm người khác sử dụng những ký hiệu giống hệt hoặc tương tự với thương hiệu đã đăng ký nếu ký hiệu đó có thể gây nên nhầm lẫn.
Các quốc gia:

  • Không được buộc chủ sở hữu thương hiệu phải cho phép sử dụng thương hiệu trong bất kỳ trường hợp nào (trong khi với Bằng sáng chế thì lại có thể áp dụng quy tắc này trong một số trường hợp và với các điều kiện nhất định);
  • Phải cho phép chủ sở hữu một thương hiệu của sản nghiệp thương mại được bán sản nghiệp thương mại mà không kèm theo thương hiệu của sản nghiệp đó.

Thời hạn bảo hộ
Thương hiệu phải được bảo hộ trong thời gian tối thiểu là 7 năm kể từ khi đăng ký lần đầu và mỗi lần đăng ký lại (không giới hạn số lần đăng ký lại). Thời hạn bảo hộ do từng nước thành viên tự quy định.
Chú ý: TRIPS quy định việc bảo hộ thương hiệu sẽ chấm dứt nếu thương hiệu đó không được sử dụng trong khoảng thời gian liên tục ít nhất 3 năm. Thời hạn cụ thể sẽ do các quốc gia quy định.

Kiểu dáng công nghiệp được hiểu là tập hợp tất cả những đặc điểm bên ngoài của sản phẩm như hình dáng, đường nét, kiểu dáng, màu sắc.
Trên thực tế không phải nước nào cũng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp. Hoặc nếu có bảo hộ cũng thường chỉ chủ yếu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của một số nhóm sản phẩm (ví dụ sản phẩm dệt, da và các sản phẩm da, xe ô tô…).
Đối tượng bảo hộ
Các nước thành viên WTO phải bảo hộ những kiểu dáng công nghiệp đáp ứng điều kiện:

  1. Có tính mới; hoặc
  2. Là nguyên bản

Nội dung bảo hộ
Người sở hữu một kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký bảo hộ được độc quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp đó và có quyền không cho phép những tổ chức, cá nhân khác được sản xuất, bán hoặc nhập khẩu những sản phẩm theo kiểu dáng hoặc là bản sao (hoặc gần như bản sao) của kiểu dáng đó mà không được sự đồng ý của mình.
Thời hạn bảo hộ
TRIPS quy định kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký phải được bảo hộ ít nhất 10 năm. Thời hạn cụ thể do từng nước tự quy định

Chỉ dẫn địa lý là một thông tin nhằm thông báo với người mua hàng rằng hàng hóa đó có chất lượng, uy tín hoặc các đặc tính khác “về cơ bản gắn với xuất xứ địa lý” của nó.
TRIPS chỉ quy định các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp pháp lý (quy định và thực thi quy định) nhằm ngăn ngừa việc dùng các cách thức khác nhau để ám chỉ hoặc thể hiện rằng sản phẩm có xuất xứ từ một địa phương không đúng với xuất xứ thực tế của nó và gây nhầm lẫn cho công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa đó.
TRIPS không đưa ra các nguyên tắc bắt buộc về đối tượng cũng như cách thức bảo hộ tối thiểu đối với chỉ dẫn địa lý. Vì vậy các nước thành viên có thể tùy ý ban hành quy định về bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý miễn là đảm bảo hiệu quả bảo hộ như nói ở đoạn trên.
Trên thực tế, việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý chủ yếu tập trung vào các sản phẩm rượu, một số loại thực phẩm hoặc sản phẩm nông nghiệp.

Khác với các Công ước về quyền sở hữu trí tuệ của WIPO, TRIPS dành một phần trọng tâm quan trọng vào việc quy định những nguyên tắc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà tất cả các nước thành viên WTO phải tuân thủ.
Cụ thể, TRIPS buộc các quốc gia thành viên phải có cơ chế đảm bảo:

  1. Giúp các chủ sở hữu quyến sở hữu trí tuệ được yêu cầu đền bù theo thủ tục dân sự (thông qua các nguyên tắc liên quan đến tòa án và thủ tục tố tụng trong các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ);
  2. Khởi tố những người vi phạm quyền tác giả hoặc thương hiệu theo thủ tục tố tụng hình sự (tức là buộc các nước phải quy định tội hình sự đối với trường hợp vi phạm quyền tác giả hoặc thương hiệu);
  3. Đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới (thông qua quy định buộc các nước phải có thủ tục để các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu cơ quan Hải quan không cho hàng hóa thông qua nếu có lý do nghi ngờ hàng hóa đó giả mạo thương hiệu hoặc quyền tác giả của mình).

Các bài khác