Văn kiện cơ bản của WTO

Phụ lục 1B - Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

          Hiệp định chung về thương mại dịch vụ là một phần của Văn kiện Cuối cùng bao gồm 3 nhóm nội dung. Nhóm nội dung thứ nhất quy định khung pháp lý liên quan đến các nghĩa vụ cơ bản áp dụng với tất cả các thành viên. Nhóm nội dung thứ hai liên quan đến các danh mục cam kết trên quy mô quốc gia bao gồm các cam kết cụ thể hơn về tiến trình tự do hóa. Nhóm nội dung thứ ba gồm các phụ lục về các trường hợp đặc biệt liên quan đến từng ngành dịch vụ cụ thể.

          Phần I của hiệp định cơ bản đã vạch rõ phạm vi điều chỉnh – đặc biệt là các dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên sang lãnh thổ của nước thành viên khác; các dịch vụ được cung cấp trong lãnh thổ của một nước thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ nước thành viên nào khác (ví dụ, dịch vụ du lịch); các dịch vụ được cung cấp thông qua sự hiện diện thương mại của một nước thành viên trên lãnh thổ của bất kỳ nước thành viên nào khác (ví dụ, dịch vụ ngân hàng); các dịch vụ được cung cấp thông qua các thể nhân của một nước thành viên này trên lãnh thổ của bất kỳ nước thành viên nào khác (ví dụ, các công trình xây dựng hay các văn phòng tư vấn).

          Phần II của hiệp định đặt ra các nghĩa vụ và nguyên tắc chung. Một nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN) cơ bản quy định rằng mỗi thành viên “phải ngay lập tức và vô điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kì nước thành viên nào không ít hơn mức đãi ngộ của nước này dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của nước khác”. Tuy nhiên, hiệp định cũng công nhận rằng đối xử MFN có thể không áp dụng với mọi hoạt động dịch vụ và do vậy hiệp định đề xuất các bên có thể đưa ra các ngoại lệ MFN cụ thể. Các điều kiện cho những ngoại lệ này được quy định tại một phụ lục cho phép rà soát sau 5 năm và thời hạn không quá 10 năm cho việc áp dụng các ngoại lệ đó.

          Yêu cầu về tính minh bạch bao gồm việc công khai về tất cả các luật và các quy tắc có liên quan. Hiệp định đề cập tới điều khoản tạo thuận lợi tăng cường tham gia của các nước đang phát triển trong thương mại dịch vụ thế giới thông qua việc đàm phán các cam kết cụ thể về tiếp cận công nghệ, cải thiện khả năng của các nước này trong việc tiếp cận các kênh phân phối và hệ thống thông tin và tự do hóa tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực và phương thức cung cấp lợi ích xuất khẩu. Các điều khoản của hiệp định này về sự hội nhập kinh tế tương tự như những điều khoản trong Điều XXIV của hiệp định GATT, đặt ra yêu cầu có “phạm vi thuộc về lĩnh vực chủ yếu” và “không quy định hoặc xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử” giữa các bên.

          Điều khoản về các quy định trong nước, các biện pháp không biên giới có tầm ảnh hưởng quan trọng đến thương mại dịch vụ, hiệp định đưa ra điều khoản chỉ ra rằng tất cả các biện pháp áp dụng chung này cần phải được quản lý một cách hợp lý, khách quan và bình đẳng. Hiệp định cũng quy định rằng các thành viên phải đưa ra các biện pháp nhanh chóng rà soát lại các quyết định hành chính liên quan đến việc cung ứng dịch vụ.

          Hiệp định quy định những nghĩa vụ liên quan đến công nhận (ví dụ, trình độ học vấn) nhằm mục đích đảm bảo cho việc phê duyệt, cấp phép hoặc chứng chỉ trong lĩnh vực dịch vụ. Hiệp định đánh giá cao việc công nhân đạt được thông qua tiêu chí hài hòa và đồng thuận quốc tế. Các điều khoản bổ sung quy định các bên phải đảm bảo rằng độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền không lạm dụng vị trí độc quyền của họ. Những thông lệ kinh doanh mang tính hạn chế sẽ phải tùy thuộc vào sự tham vấn giữa các bên để xóa bỏ thông lệ này.

          Mặc dù thông thường các bên không được phép hạn chế việc chuyển tiền và thanh toán quốc tế cho những giao dịch vãng lai liên quan đến các cam kết của hiệp định, hiệp định có các điều khoản cho phép những hạn chế nhất định trong trường hợp cán cân thanh toán gặp khó khăn. Tuy nhiên, nếu được áp dụng, những hạn chế này sẽ phải tuân thủ một số điều kiện bao gồm không phân biệt đối xử, tránh những thiệt hại thương mại không cần thiết cho các thành viên khác và chỉ mang tính chất tạm thời.

          Hiệp định bao gồm những điều khoản ngoại lệ chung và ngoại lệ về an ninh tương tự như các Điều khoản XX và XXI của hiệp định GATT. Hiệp định cũng quy định về việc đàm phán nhằm mục đích phát triển các nguyên tắc đối với việc trợ cấp bóp méo thương mại trong lĩnh vực dịch vụ.

          Phần III bao gồm các điều khoản cam kết cụ thể về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia, không phải là các nghĩa vụ chung mà là các cam kết trong các danh mục cam kết quốc gia. Khi mở cửa thị trường, “mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự sự đối xử theo những điều kiện, điều khoản và hạn chế đã được thỏa thuận và quy định tại Danh mục cam kết cụ thể”. Mục đích của điều khoản mở cửa thị trường là để xóa bỏ dần dần các biện pháp như: hạn chế số lượng về các nhà cung cấp dịch vụ, về tổng giá trị giao dịch dịch vụ, về tổng số các hoạt động dịch vụ hay về tổng số lao động được tuyển dụng. Tương tự như vậy, những hạn chế đối với các hình thức pháp nhân hoặc liên doanh thông qua đó dịch vụ được cung cấp hoặc hạn chế về tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài bằng cách giới hạn tỷ lệ phần trăm tối đa cổ phần phải từng bước xóa bỏ.

          Điều khoản đối xử quốc gia quy định nghĩa vụ đối xử như nhau đối với các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, hiệp định cho phép một nước dành cho các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác sự đối xử phân biệt mà các thành viên đó dành cho các nhà cung cấp dịch vụ nội địa của mình. Tuy nhiên trong trường hợp này, các điều khoản cạnh tranh không được sửa đổi theo hướng tạo thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ nội địa.

          Phần IV của hiệp định đưa ra những cơ sở cho việc tự do hóa từng bước trong ngành dịch vụ thông qua các vòng đàm phán liên tục và triển khai các danh mục cam kết quốc gia. Phần này cũng cho phép các thành viên được rút lại hoặc sửa đổi các danh mục cam kết sau kỳ hạn 3 năm. Nếu các cam kết được sửa đổi hoặc rút lại, các thành viên liên quan phải tiến hành thương lượng để thống nhất về giải quyết bồi thường. Nếu không thể đi đến thống nhất, việc bối thường sẽ được quyết định bởi trọng tài.

         Phần V của hiệp định là những quy định về thể chế, gồm điều khoản về tham vấn và giải quyết tranh chấp cũng như thành lập Hội đồng Thương mại Dịch vụ. Nghĩa vụ của Hội đồng Thương mại Dịch vụ được quy định tại Quyết định Bộ trưởng.

          Phụ lục đầu tiên của hiệp định liên quan đến việc di chuyển thể nhân. Phụ lục cho phép các thành viên đàm phán các cam kết cụ thể về việc di chuyển của các thể nhân cung cấp dịch vụ theo hiệp định này. Phụ lục quy định rằng thể nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của một cam kết cụ thể sẽ được cung cấp dịch vụ phù hợp với các điều khoản của cam kết đó. Tuy nhiên hiệp định này sẽ không áp dụng đối với các biện pháp tác động đến việc làm, quốc tịch, cư trú hoặc việc làm trên cơ sở thường xuyên.

          Phụ lục về các dịch vụ tài chính (chủ yếu là ngành ngân hàng và bảo hiểm), dù có các điều khoản khác trong Hiệp định, phụ lục này cho phép áp dụng những biện pháp thận trọng, bao gồm việc bảo vệ cho các nhà đầu tư, người gửi tiền, người nắm giữ hợp đồng bảo hiểm và để đảm bảo cho sự thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, điều khoản diễn giải về các dịch vụ tài chính sẽ cho phép các bên tham gia được lựa chọn thực hiện các cam kết về dịch vụ tài chính thông qua một phương pháp mới. Liên quan đến vấn đề mở cửa thị trường, diến giải các nghĩa vụ chi tiết hơn về các quyền độc quyền, thương mại xuyên biên giới (việc nhận hợp đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm cũng như việc xử lý và truyền dữ liệu tài chính), quyền thành lập và mở rộng hiện diện thương mại và việc cho phép tạm trú. Các điều khoản về đối xử quốc gia có liên quan chặt chẽ với việc mở cửa hệ thống thanh toán và quyết toán được điều hành bởi các tổ chức công và liên quan đến các phương thức tài trợ và tái cấp vốn công. Các điều khoản cũng liên quan đến tư cách thành viên hay sự tham gia của các tổ chức tự điều chỉnh, tổ chức kinh doanh chứng khoán, hàng hóa kỳ hạn và các đại lý thanh toán.

          Phụ lục về thông tin viễn thông liên quan đến các biện pháp có ảnh hưởng đến việc mở cửa và sử dụng các dịch vụ và mạng lưới thông tin viễn thông công cộng. Đặc biệt, phụ lục quy định quyền tiếp cận phải được dành cho tất cả các thành viên, trên cơ sở hợp lý và không phân biệt đối xử, để cung cấp một dịch vụ được nêu trong danh mục cam kết. Các điều kiện về việc sử dụng mạng lưới viễn thông công không được nhiều hơn mức cần thiết để bảo đảm những trách nhiệm của các nhà mạng đối với dịch vụ công cộng, bảo vệ sự toàn vẹn về mặt kỹ thuật của hệ thống và để đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ không cung cấp dịch nếu không được cho phép bằng một cam kết cụ thể. Phụ lục này cũng khuyến khích việc hợp tác về mặt kỹ thuật để giúp đỡ các nước đang phát triển trong việc củng cố ngành viễn thông nội địa.

          Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng không loại trừ các quyền chuyên chở của hiệp định (chủ yếu là các thỏa thuận dịch vụ hàng không song phương về quyền hạ cánh) và các hoạt động  liên quan trực tiếp có thể ảnh hưởng đến việc đàm phán các quyền chuyên chở. Tuy nhiên, bản phụ lục hiện tại cũng quy định rằng hiệp định này chỉ áp dụng cho dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy bay, tiếp thị dịch vụ vận tải hàng không và các dịch vụ có liên quan đến hệ thống đặt vé máy bay qua mạng điện toán (CRS). Việc thực thi phụ lục này sẽ được thực hiện rà soát định kỳ ít nhất là 5 năm 1 lần.

          Vào những ngày cuối cùng của vòng đàm phán về dịch vụ, 3 quyết định đã được đưa ra, đó là về Dịch vụ Tài chính, Dịch vụ Nghề nghiệp và Di chuyển của Thể nhân. Quyết định về Dịch vụ Tài chính khẳng định các cam kêt trong lĩnh vực này sẽ được áp dụng trên cơ sở các điều khoản MFN, và cho phép các thành viên rà soát và hoàn thành danh mục cam kết và các ngoại lệ MFN của họ 6 tháng sau khi hiệp định này có hiệu lực. Khác với những tin đồn của giới truyền thông, dịch vụ nghe nhìn và dịch vụ hàng hải đã không bị loại bỏ khỏi phạm vi điều chỉnh của hiệp định GATS.

 

Văn bản hiệp định:

Phụ lục 1B - Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

Bảng phân loại các ngành dịch vụ trong WTO (Bản Tiếng Việt) (Bản Tiếng Anh)

Câu hỏi thường gặp:

GATS – Tên viết tắt của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services) là một Hiệp định thuộc hệ thống WTO, ra đời năm 1995, quy định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ.
Các nguyên tắc trong Hiệp định này áp dụng bắt buộc đối với tất cả các nước Thành viên WTO. Tuy nhiên, đây là các nguyên tắc chung về thương mại dịch vụ. Nghĩa vụ cụ thể của mỗi nước thành viên trong việc mở cửa thị trường dịch vụ của nước mình trong từng lĩnh vực dịch vụ (cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ từ các nước thành viên WTO khác) được nêu trong Biểu cam kết dịch vụ riêng của nước đó (Biểu này là kết quả của đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ của nước đó khi gia nhập WTO).

Hộp 1 - Mục tiêu cơ bản của GATS
GATS được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu sau đây trong thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO:

  1. Tạo ra một hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế đáng tin cậy;
  2. Đảm bảo đối xử bình đẳng và công bằng đối với tất cả các bên tham gia (nguyên tắc không phân biệt đối xử);
  3. Thúc đẩy các hoạt động kinh tế thông qua việc cam kết chính sách; và
  4. Thúc đẩy thương mại và phát triển thông qua tự do hóa dần dần (tạo điều kiện để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn, đặc biệt là khách hàng ở thị trường nước khác). 

Chú ý là GATS chỉ quy định các nghĩa vụ đối với Chính phủ các quốc gia thành viên (GATS không quy định gì về quyền lợi hay nghĩa vụ cho doanh nghiệp). Tuy nhiên, doanh nghiệp lại được hưởng lợi hoặc chịu tác động của Hiệp định này thông qua việc Chính phủ các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ trong GATS khi ban hành chính sách, quy định về thương mại dịch vụ ở nước mình. Vì vậy các doanh nghiệp cũng cần có hiểu biết về các nguyên tắc chung về dịch vụ trong GATS

GATS điều chỉnh tất cả các loại dịch vụ trừ:

  • Các dịch vụ của Chính phủ (ví dụ các chương trình an sinh xã hội và các dịch vụ công khác như y tế, giáo dục… được cung cấp dựa trên các điều kiện phi thị trường). Những dịch vụ này được cung cấp không trên cơ sở thương mại và không cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ khác;
  • Một số dịch vụ thuộc lĩnh vực vận tải hàng không (ví dụ quyền lưu không và các dịch vụ liên quan trực tiếp đến quyền lưu không).

Tuy nhiên GATS lại không có định nghĩa chính thức về dịch vụ. Thông thường, người ta phân biệt dịch vụ với hàng hoá ở đặc tính “vô hình” và “không nhìn thấy được” của dịch vụ (trong khi đó hàng hoá lại “hữu hình” và “có thể nhìn thấy”).
GATS cũng không có quy định chính thức về cách thức phân loại dịch vụ. Tuy nhiên, Ban Thư ký của WTO đã chia các hoạt động dịch vụ thành 12 ngành (Bảng dưới đây) với 155 phân ngành dịch vụ (mỗi ngành bao gồm nhiều phân ngành).

Bảng 1 - Các ngành dịch vụ theo phân loại không chính thức của GATS

Stt

Ngành dịch vụ

Mô tả chung

1

Dịch vụ kinh doanh

Bao gồm các dịch vụ chuyên môn như dịch vụ pháp lý, dịch vụ kế toán, kiểm toán, dịch vụ kiến trúc; dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan; các dịch vụ kinh doanh khác

2

Dịch vụ thông tin

Bao gồm dịch vụ chuyển phát, dịch vụ viễn thông và dịch vụ nghe nhìn

3

Dịch vụ xây dựng

 

4

Dịch vụ phân phối

Bao gồm dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và dịch vụ nhượng quyền thương mại

5

Dịch vụ giáo dục

Bao gồm các dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở, giáo dục bậc cao, giáo dục cho người lớn, các dịch vụ giáo dục khác

6

Dịch vụ môi trường

Bao gồm các dịch vụ xử lý nước thải, xử lý rác thải, các dịch vụ khác

7

Dịch vụ tài chính

Bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ chứng khoán

8

Dịch vụ y tế

Bao gồm dịch vụ bệnh viện, dịch vụ nha khoa và các dịch vụ y tế khác

9

Dịch vụ du lịch

Bao gồm dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch, các dịch vụ du lịch khác

10

Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao

 

11

Dịch vụ vận tải

Bao gồm dịch vụ vận tải biển, dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không, các dịch vụ hỗ trợ vận tải

12

Các dịch vụ khác

 

GATS công nhận quyền của Chính phủ các nước thành viên trong việc quản lý, điều tiết việc cung cấp dịch vụ nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách của mình. GATS cũng không can thiệp vào mục tiêu chính sách của mỗi nước.
Vì vậy chính sách thương mại dịch vụ của mỗi nước vẫn do Chính phủ nước đó quyết định. Các doanh nghiệp thực hiện thương mại dịch vụ ở đâu vẫn phải tuân thủ quy định nội địa ở đó.
Tuy nhiên, GATS đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chung mà các nước thành viên WTO đều phải tuân thủ, qua đó có thể đảm bảo rằng các quy định về dịch vụ ở các nước này được quản lý, thực hiện một cách hợp lý, khách quan, công bằng và không tạo ra các rào cản không cần thiết đối với thương mại.
Do đó, doanh nghiệp có thể so sánh các chính sách, quy định về thương mại dịch vụ nội địa liên quan với các nguyên tắc chung của GATS để phát triển các trường hợp chính phủ một nước không tuân thủ GATS, từ đó có hình thức khiếu nại, khiếu kiện phù hợp để bảo vệ quyền lợi của mình.

Khi tham gia WTO, trong lĩnh vực dịch vụ, các nước thành viên phải tuân thủ 02 nhóm nghĩa vụ sau:

  • Các nghĩa vụ chung: áp dụng bắt buộc và trực tiếp cho tất cả các thành viên cũng như tất cả các ngành dịch vụ;
  • Các cam kết cụ thể: Mỗi nước Thành viên có các cam kết riêng về từng ngành dịch vụ, Biểu cam kết của từng nước là tập hợp các cam kết cụ thể này. Biểu cam kết bao gồm cam kết nền và cam kết riêng cho từng ngành dịch vụ.
  1. Nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN): Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi thành viên không được phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ đến từ các nước thành viên khác nhau.

    Ví dụ, Việt Nam không thể dành ưu đãi cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ từ một nước A (thành viên WTO) nào đó hơn dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ từ các nước thành viên WTO khác.

    Hộp 2 - Những ngoại lệ đối với nguyên tắc MFN trong dịch vụ
    Theo quy định của GATS, các nước thành viên WTO phải đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ đến từ các nước thành viên khác theo cách thức tương tự nhau (về tất cả các vấn đề).
    Tuy nhiên, nguyên tắc MFN này có một số ngoại lệ sau:
    • Theo cam kết riêng của từng nước trong WTO: đây là trường hợp nước gia nhập thành công trong đàm phán miễn thực hiện nghĩa vụ này trong một số dịch vụ hoặc trường hợp cụ thể trong một số năm;
    • Theo các thoả thuận khu vực hoặc các Hiệp định thương mại tự do: các cam kết trong những Văn kiện này được ưu tiên áp dụng (và do đó các nước thành viên những Thoả thuận hay Hiệp định này có thể cho nhau hưởng đối xử ưu đãi ở mức cao hơn so với các nước thành viên WTO không tham gia Thoả thuận hay Hiệp định này)
  2. Nghĩa vụ minh bạch hóa: Mỗi nước thành viên phải công khai các quy định của mình trong lĩnh vực dịch vụ và phải thiết lập các Điểm hỏi đáp để cung cấp thông tin liên quan cho các nước thành viên khác cũng như các doanh nghiệp của các nước đó;
  3. Các nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp dịch vụ độc quyền: GATS quy định các nước thành viên phải thiết lập các thủ tục hành chính và các nguyên tắc tố tụng minh bạch, khách quan đối với hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ độc quyền (để đảm bảo rằng các doanh nghiệp này không lạm dụng vị trí độc quyền).

Hộp 3 - Ví dụ về nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp dịch vụ độc quyền
Liên quan đến lĩnh vực viễn thông, WTO quy định các nước thành viên có nghĩa vụ:

  • Ban hành các quy định để đảm bảo các doanh nghiệp dịch vụ độc quyền phải đối xử bình đẳng đối với mọi khách hàng, kể cả khách hàng trong nước và khách hàng ngoài nước;
  • Ban hành và thực thi các thủ tục hành chính để đảm bảo kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ này của các doanh nghiệp.

Cam kết riêng của mỗi nước về thương mại dịch vụ thường bao gồm cam kết về 02 vấn đề sau đây:

  • Mở cửa thị trường cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài (trong từng lĩnh vực dịch vụ);
  • Mức độ đối xử quốc gia đối với dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài (trong từng lĩnh vực dịch vụ).

Sau đây là một số nội dung cơ bản của các nhóm nghĩa vụ này.

  1. Cam kết về mức độ mở cửa thị trường:

    Mở cửa thị trường được hiểu là việc cho phép dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác được tiếp cận thị trường nội địa ở những mức độ nhất định (ví dụ cho phép cung cấp dịch vụ, lập doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, mở chi nhánh, văn phòng đại diện… ở mức nào, với điều kiện gì). Với mỗi nước, cam kết mở cửa thị trường được thực hiện đối với từng phân ngành dịch vụ, với mức độ mở cửa khác nhau.
    Thực chất nội dung mỗi cam kết mở cửa thị trường trong từng phân ngành dịch vụ bao gồm các điều kiện có tính ràng buộc, hạn chế đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ở mức độ khác nhau.

    Hộp 4 - Một số loại điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong các cam kết mở cửa dịch vụ
    Cam kết mở cửa một ngành hay phân ngành dịch vụ thường bao gồm một hoặc một số điều kiện về:
    1. Số lượng các nhà cung cấp dịch vụ;
    2. Giá trị của các hoạt động dịch vụ được thực hiện;
    3. Số lượng các hoạt động dịch vụ được thực hiện;
    4. Số lượng nhân viên;
    5. Hình thức pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ chỉ được tham gia thị trường dưới hình thức công ty cổ phần…);
    6. Mức độ góp vốn trong liên doanh...

    Ví dụ: Đối với dịch vụ sản xuất phim, cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam liên quan đến phương thức hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài bao gồm các điều kiện sau:

    • Chỉ được tham gia thị trường Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam; và
    • Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.  
  2. Cam kết về đối xử quốc gia
  3. Căn cứ vào các nghĩa vụ chung và các cam kết cụ thể này, các Thành viên sẽ ban hành các quy định nội địa cụ thể cho từng ngành/phân ngành dịch vụ đã cam kết. Với những ngành chưa có cam kết thì các Thành viên được tự do đưa ra quy định về bất kỳ hạn chế hay điều kiện nào, miễn là Thành viên vẫn phải đảm bảo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc MFN (đối xử với các nhà cung cấp đến từ tất cả các nước thành viên WTO theo một cách như nhau).

Hộp 5 - Khác biệt giữa nguyên tắc đối xử quốc gia trong thương mại hàng hoá và trong thương mại dịch vụ
  1. Trong thương mại hàng hoá, các nước thành viên WTO đã đạt được thoả thuận NT cho hầu hết các loại hàng hoá về thuế, phí, các quy định, điều kiện thương mại… Vì vậy, nguyên tắc NT trong thương mại hàng hoá được thực hiện hầu như ở mức tuyệt đối.
  2. - Đối với thương mại dịch vụ, mức độ cam kết mở cửa còn dè dạt và có nhiều hạn chế trong từng ngành, phân ngành dịch vụ đối với từng nước thành viên. Vì vậy, nguyên tắc NT áp dụng rất hạn chế, phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài với nhà cung cấp dịch vụ trong nước còn tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau.

Cam kết trong Biểu Cam kết dịch vụ WTO của mỗi nước chỉ là mức đối xử “tối thiểu” mà nước đó buộc phải dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Còn gọi là “mức mở cửa tối thiểu”. Các thành viên hoàn toàn có thể “mở cửa” rộng hơn, nếu muốn.
Trên thực tế, tuỳ nhu cầu từng thời kỳ của mình, Việt Nam có thể áp dụng các điều kiện gia nhập thị trường cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thông thoáng hơn cam kết của mình.

Hộp 6 - Ví dụ  về mở cửa thị trường dịch vụ nhanh hơn cam kết
Trong cam kết về dịch vụ giám định thương mại (thuộc phạm vi dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật) Việt Nam chỉ phải cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sau 5 năm kể từ khi cho phép khu vực tư nhân cung cấp các dịch vụ này.
Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển dịch vụ giám định, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào dịch vụ này, ngay từ năm 2007 Viêt Nam đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp giám định 100% vốn nước ngoài, quy định tại Quyết định 10/2007/QĐ-BTM .

Vì vậy, ngoài Biểu cam kết trong dịch vụ của mình, doanh nghiệp cần chú ý những thay đổi trong pháp luật nội địa có liên quan để có điều chỉnh phù hợp kế hoạch kinh doanh, đầu tư (đặc biệt với đối tác nước ngoài) trong trường hợp Chính phủ có điều chỉnh chính sách để mở rộng thị trường hơn so với cam kết.

  • Bảo vệ đạo đức chung và duy trì trật tự xã hội;
  • Bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật;
  • Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật (ví dụ các biện pháp cần thiết để ngăn chặn các hành vi lừa dối, giả mạo) nếu không vi phạm GATS;
  • Đối với dịch vụ tài chính, cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp khắt khe hơn cam kết vì lý do thận trọng (ví dụ để bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi, những người ký hợp đồng bảo hiểm, để đảm bảo sự thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính…);
  • Trường hợp gặp phải khó khăn nghiêm trọng về cán cân thanh toán, các nước thành viên được phép hạn chế thương mại tạm thời.

Vì vậy, Việt Nam hoàn toàn có thể đặt ra các điều kiện cho các dịch vụ và nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ khắt khe hơn cam kết trong WTO nếu vì các lý do nêu trên.

GATS có một số quy định mang tính “ưu tiên” cho các nước đang phát triển, đặc biệt là việc được hưởng hỗ trợ kỹ thuật từ các nước thành viên WTO khác và được “nương nhẹ” trong các đàm phán mở cửa thị trường. Tuy nhiên, trên thực tế những “ưu tiên” này hầu như chỉ là hình thức.
Ví dụ, là nước đang phát triển nhưng Việt Nam thậm chí đã phải cam kết mở cửa thị trường rộng hơn mặt bằng cam kết chung của WTO của các nước thành viên cũ.

Đính kèmSize
mtn_gns_w_120_e.doc56 KB
Bang Phan loai cac nganh dich vu WTO.pdf323.34 KB
gatsmtn_gns_w_120_e.pdf100.32 KB

Các bài khác