Giải quyết tranh chấp số DS350

14/05/2013

Hoa Kỳ - Việc tiếp tục áp dụng phương pháp Zeroing

Nguyên đơn:

EC

Bị đơn:

Hoa Kỳ

Các bên thứ ba:

Braxin; China; Egypt; India; Japan; Hàn Quốc; Mexico; Na uy; Đài Loan; Thái Lan

Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn)

Hiệp định Thành lập WTO: Điều  XVI:4
Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Điều 15.829.19.39.51111.111.2,11.32.118.42.42.4.2
GATT 1994: Điều  VI:2VI:1

Ngày nhận được yêu cầu tham vấn

02/10/2006

Ngày lưu hành Báo cáo của Ban Hội thẩm

01/10/2008

Ngày lưu hành Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm

04/02/2009

Bản tóm tắt dưới đây được cập nhật đến ngày 16/02/2012

Tham vấn

Ngày 02/10/2006, EC yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳ liên quan đến việc nước này vẫn tiếp tục áp dụng phương pháp Zeroing trong tính toán biên độ phá giá. Cụ thể, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn về:

-       Việc thực thi quy định (19 CFR Phần 351) của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, đặc biệt mục 351.414(c)(2);

-       Hướng dẫn về Chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu (phiên bản 1997), bao gồm (các) chương trình máy tính liên quan.

EC cho rằng Hoa Kỳ, dựa trên các quy định này, tiếp tục áp dụng phương pháp Zeroing để tính toán biên độ phá giá trong các kết luận cuối cùng trong các cuộc rà soát hành chính đối với hàng loạt các sản phẩm nhập khẩu từ EU và trong bất kỳ hướng dẫn đánh giá nào được ban hành theo các kết quả cuối cùng này. EC cho rằng các quy định liên quan của Hoa Kỳ, cùng với phương pháp Zeroing, thông lệ, thủ tục hành chính và các biện pháp xác định biên độ phá giá trong các cuộc rà soát đã vi phạm:

-       Điều 2.1, 2.4, 2.4.2, 9.1, 9.3, 9.5, 11, bao gồm 11.2 và 11.3, và 18.4 của Hiệp định ADA;

-       Điều VI:1 và VI:2 của GATT 1994 và

-       Điều XVI:4 của Hiệp định ADA.

Ngày 09/10/2006, trong yêu cầu tham vấn bổ sung, EC đã bổ sung thêm một số cuộc rà soát hành chính mà trong đó DOC đã áp dụng Zeroing để tính toán biên độ phá giá và yêu cầu đưa các vụ này vào trong danh sách yêu cầu tham vấn.

Nhật Bản (10/10/2006), Thái Lan (12/10/2006), Braxin và Ấn Độ (13/10/2006) yêu cầu được tham gia vào cuộc tham vấn với tư cách bên thứ ba.

Giai đoạn Hội thẩm

Tham vấn không thành công, do đó ngày 10/05/2007, EC yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp vụ việc này. Tại cuộc họp ngày 22/05/2007, DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên Ban Hội thẩm đã được thành lập sau đó tại cuộc họp của DSB ngày 04/06/2007.

Đài Loan, Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ và sau đó là Braxin, Trung Quốc, Ai Cập, Hàn Quốc, Na-uy và Thái Lan yêu cầu tham gia vào vụ kiện với tư cách các bên thứ ba.

Ngày 29/06/2007, do hai bên không thể thống nhất được về thành phần của Ban Hội thẩm, EC đã phải yêu cầu Tổng giám đốc WTO chỉ định thành viên cho Ban Hội thẩm. Ngày 06/07/2007, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác định.

Ngày 01/10/2007, Chủ tịch Ban Hội thẩm thông báo với DSB rằng họ không thể hoàn thành công việc trong vòng 6 tháng do có mâu thuẫn về lịch trình làm việc. Ban Hội thẩm dự kiến hoàn thành công việc trong tháng 06/2008.

Ngày 14/12/2007, Chủ tịch Ban Hội thẩm thông báo với DSB rằng, do một thành viên của Ban Hội thẩm xin từ nhiệm ngày 08/11/2007, các bên đồng ý bổ nhiệm một thành viên mới vào ngày 27/10/2007 và việc này đã làm trì hoãn công việc của Ban Hội thẩm. Ban Hội thẩm dự kiến sẽ hoàn thành công việc trong tháng 09/2008.

Ngày 01/10/2008, Ban Hội thẩm hoàn thành Báo cáo giải quyết tranh chấp và gửi tới tất cả các thành viên WTO. Trong đó, Ban Hội thẩm nhận thấy rằng các thủ tục mà EC bổ sung trong yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm nhưng không có trong yêu cầu tham vấn thuộc phạm vi liên quan của vụ kiện, tuy nhiên các khiếu nại của EC liên quan đến việc tiếp tục áp dụng thuế chống bán phá giá, cũng như các kết luận sơ bộ liệt kê trong yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm không thuộc phạm vi liên quan của vụ việc.

Ban Hội thẩm kết luận:

-       Hoa Kỳ đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Điều 2.4.2 Hiệp định ADA do sử dụng Zeroing trong 4 cuộc điều tra liên quan trong vụ kiện này.

-       Hoa Kỳ đã hành động không nhất quán với các nghĩa vụ của mình theo Điều VI:2 của GATT 1994  và Điều 9.3 của Hiệp định ADA do sử dụng phương pháp Zeroing đơn giản trong 29 cuộc rà soát hành chính giữa kỳ là đối tượng của vụ kiện này.

-       Hoa Kỳ đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Điều 11.3 của Hiệp định ADA do sử dụng các biên độ phá giá được tính toán dựa trên phương pháp Zeroing trong các cuộc điều tra trước đó cho 8 cuộc rà soát hoàng hôn.

-       Ban Hội thẩm áp dụng “tinh giản tài phán” (không ra phán quyết đối với các vấn đề mà trước đó đã có kết luận cho các vấn đề tương tự nó) đối với một số khiếu nại khác của EC liên quan đến việc sử dụng Zeroing trong các cuộc điều tra liên quan và việc áp dụng phương pháp Zeroing đơn giản trong các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ liên quan, cũng như việc sử dụng các biên độ phá giá được tính toán dựa trên phương pháp Zeroing trong các cuộc điều tra trước đó cho các cuộc rà soát hoàng hôn[1].

Ban Hội thẩm khuyến nghị DSB yêu cầu Hoa Kỳ sửa đổi các biện pháp của mình cho phù hợp với các nghĩa vụ của nước này theo Hiệp định WTO. Tuy nhiên, Ban Hội thẩm từ chối đưa ra đề xuất làm thế nào để Hoa Kỳ có thể thực thi các khuyến nghị và phán quyết của DSB.

Giai đoạn Phúc thẩm

Ngày 06/11/2008, EC thông báo với DSB quyết định kháng cáo lên Cơ quan Phúc thẩm một số vấn đề pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban Hội thẩm. Ngay sau đó, ngày 18/11/2008, Hoa Kỳ cũng thông báo quyết định kháng cáo.

Ngày 22/12/2008, Chủ tịch Cơ quan Phúc thẩm thông báo với DSB rằng họ không thể hoàn thành Báo cáo trong vòng 60 ngày do cần thêm thời gian để hoàn thiện và biên dịch Báo cáo và dự kiến hoàn thành công việc vào ngày 04/02/2009.

Ngày 04/02/2009, Báo cáo phúc thẩm được gửi tới tất cả các thành viên WTO. Trong đó, Cơ quan Phúc thẩm:

-       Bác bỏ kết luận của Ban Hội thẩm rằng EC đã vi phạm Điều 6.2 của DSU liên quan đến các khiếu nại của EC về việc tiếp tục áp thuế chống bán phá giá trong 18 vụ liên quan, thay vào đó, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm của EC đã đưa ra đúng vấn đề liên quan.

-       Từ chối đưa ra thêm bất kỳ kết luận nào về việc liệu rằng Ban Hội thẩm có vi phạm các Điều 7.1, 7.2, 11 và 12.7 của DSU.

-       Kết luận việc tiếp tục áp dụng các mức thuế chống bán phá giá trong 18 vụ kiện liên quan đã được xác định trong yêu cầu tham vấn, và nhận thấy rằng việc tiếp tục sử dụng phương pháp Zeroing trong các quy trình tiếp theo trong đó giữ nguyên các mức thuế trong 18 lệnh áp thuế ban đầu là các vấn đề có thể bị khiếu kiện ra WTO.

-       Liên quan đến sản phẩm vòng bi (ball bearings) và các phụ kiện của nó nhập khẩu từ Italia (vụ số II), nhập khẩu từ Đức (vụ số III), nhập khẩu từ Pháp (vụ số IV) và thép tấm/mảnh cuộn không gỉ (stainless steel sheet and strips in coinls) nhập khẩu từ Đức (vụ số VI), Cơ quan Phúc thẩm nhận thấy rằng các phát hiện thực tế của Ban Hội thẩm đủ để chứng minh việc tiếp tục sử dụng Zeroing trong các quy trình tiếp theo trong đó các mức thuế được giữ nguyên và kết luận rằng việc áp dụng và tiếp tục áp dụng các mức thuế này là:

+  vi phạm Điều 9.3 của Hiệp định ADA và Điều VI:2 của  GATT 1994 vì dựa trên các biên độ phá giá được tính toán thông qua phương pháp Zeroing trong các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ;

+ vi phạm Điều 11.3 của Hiệp định ADA do đã dựa trên biên độ phá giá được tính toán thông qua phương pháp Zeroing khi đưa ra các kết luận rà soát hoàng hôn.

-       Từ chối đưa ra bất kỳ phán quyết nào nhằm giải quyết vụ việc và hoàn thành phân tích đối với 14 trong số 18 vụ còn lại liên quan đến các Điều 2.1, 2.4.2 và 11.2 của Hiệp định ADA, Điều VI:1 của GATT 1994, và Điều XVI:4 của Hiệp định WTO.

-       Bác bỏ kết luận của Ban Hội thẩm rằng khiếu nại của EC liên quan đến 4 phán quyết sơ bộ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban Hội thẩm và từ chối yêu cầu của EC đưa ra kết luận các phán quyết này vi phạm với “các điều khoản của GATT 1994 và Hiệp định ADA được đưa ra trong giai đoạn hội thẩm”.

-       Ủng hộ kết luận của Ban Hội thẩm rằng 14 cuộc rà soát hành chính và hoàng hôn thuộc thẩm quyền xem xét của Ban Hội thẩm và kết luận của Ban Hội thẩm rằng Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 9.3 của Hiệp định ADA và Điều VI:2 của GATT 1994 do đã áp dụng phương pháp Zeroing đơn giản trong 29 cuộc rà soát hành chính giữa kỳ, và do đó từ chối đưa ra phán quyết đối với các kháng cáo về điều kiện của EC.

-       Kết luận rằng Ban Hội thẩm đã vi phạm Điều 11 của DSU khi cho rằng EC đã không chỉ ra được rằng phương pháp Zeroing đơn giản được sử dụng trong 7 cuộc rà soát hành chính giữa kỳ và do đó bác bỏ kết luận này của Ban Hội thẩm. Cơ quan Phúc thẩm hoàn thành phân tích và nhận thấy rằng EC đã chứng minh được phương pháp Zeroing đơn giản đã được sử dụng và do đó Hoa Kỳ đã vi phạm Điều VI:2 của GATT 1994 và Điều 9.3 của Hiệp định ADA khi áp dụng Phương pháp Zeroing đơn giản trong các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ đối với thanh thép bê tông chịu lực (steel concrete reinforcing bars) nhập khẩu từ Latvia (vụ I – số 3), thanh thép không gỉ nhập khẩu từ Đức (vụ IX – số 33); thanh thép không gỉ nhập khẩu từ Đức (vụ IX – số 34); thanh thép không gỉ nhập khẩu từ Italia (Vụ XI – số 39); và mì ống (pasta) nhập khẩu từ Italia (vụ XIII – số 43).

-       Từ chối hoàn thành phân tích liên quan đến các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ đối với thanh thép không gỉ nhập khẩu từ Pháp (vụ V – số 21) và bỏ qua khiếu nại của Hoa Kỳ rằng Ban Hội thẩm đã hành động vi phạm Điều 11 của DSU khi kết luận Hoa Kỳ vi phạm Điều 11.3 của Hiệp định ADA liên quan đến 8 cuộc rà soát hoàng hôn và do đó, ủng hộ kết luận của Ban Hội thẩm.

-       Cuối cùng, bác bỏ yêu cầu của EC về một khuyến nghị theo Điều 19.1 của DSU

Cơ quan Phúc thẩm khuyến nghị DSB yêu cầu Hoa Kỳ sửa đổi các biện pháp vi phạm của mình cho phù hợp với các nghĩa vụ của nước này theo GATT 1994 và Hiệp định ADA.

Tại cuộc họp ngày 19/02/2009, DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và Báo cáo của Ban Hội thẩm đã được sửa đổi.

Thực thi

Tại cuộc họp của DSB ngày 20/03/2009, Hoa Kỳ thông báo với DSB ý định thực thi các khuyến nghị và phán quyết của DSB nhưng cần một khoảng thời gian hợp lý để hoàn thành. Ngày 02/06/2009, Hoa Kỳ và EC thông báo với DSB rằng họ đã đạt được thỏa thuận về khoảng thời gian hợp lý nói trên là 10 tháng, hết hạn ngày 19/12/2009.

Ngày 04/01/2010, EU và Hoa Kỳ thông báo với DSB về thủ tục giám sát thực thi và bồi thường theo Điều 21 và 22 của DSU.

Ngày 06/02/2012, EU và Hoa Kỳ thông báo với DSB về Biên bản ghi nhớ đưa ra lộ trình giải quyết tranh chấp giữa hai nước này.

 


[1] Một thành viên của Ban Hội thẩm có ý kiến khác với các thành viên còn lại liên quan đến các cáo buộc của EC về việc áp dụng Zeroing trong các cuộc điều tra và phương pháp Zeroing đơn giản trong các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ. Thành viên này đồng ý với các kết luận của đa số thành viên của Ban Hội thẩm liên quan đến tất cả các khiếu nại của EC trong vụ việc này nhưng không đồng ý về các lập luận pháp lý của họ đối với các khiếu nại của EC về việc sử dụng phương pháp Zeroing đơn giản trong các cuộc rà soát hành chính giữa kỳ và, một phần, việc sử dụng Zeroing trong các cuộc điều tra ban đầu.