Giải quyết tranh chấp số DS184

19/06/2011

Hoa Kỳ — Biện pháp chống bán phá giá tạm thời đối với các sản phẩm thép cuộn cán nóng nhập khẩu từ Nhật Bản.

Tiêu đề:

Hoa Kỳ - thép cuộn nóng

Nguyên đơn:

Nhật Bản

Bị đơn:

Hoa Kỳ

Các bên thứ ba:

Braxin; Canada; Chile; EC, Hàn Quốc

Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn):

Hiệp định thành lập WTO: Điều XVI
Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Phụ lục I, Phụ lục II, Điều 3, 4, 6. 2, 9, 10, 18
GATT 1994: Điều VI, X

Ngày nhận được yêu cầu tham vấn:

18/11/1999

Ngày lưu hành báo cáo của Ban Hội thẩm:

28/2/2001

Ngày lưu hành báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm:

24/7/2001

Ngày lưu hành báo cáo của Trọng tài theo Điều 21.3 (c):

19/2/2002

Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện

Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện tới ngày 24/02/2010

Thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và Ban Hội thẩm.

Do Nhật Bản khởi kiện.

Ngày 18/11/1999, Nhật Bản yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳ về các phán quyết sơ bộ và phán quyết cuối cùng của Bộ Thương mại và Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ trong cuộc điều tra chống bán phá giá mặt hàng thép cuộn cán nóng nhập khẩu từ Nhật Bản ngày 25 và 30/11/1998, 12/02/1999, 28/04/1999 và 23/06/1999. Nhật Bản cáo buộc các phán quyết này không chính xác và dựa trên căn cứ thiếu đầy đủ theo Bộ luật Hải quan Hoa Kỳ 1930 và các qui định khác liên quan. Nhật Bản cũng kiện Hoa Kỳ về một số điều khoản của Bộ luật Hải Quan 1930 và các qui định liên quan. Nhật Bản khẳng định Hoa Kỳ vi phạm Điều VI và X của GATT 1994, Điều 2, 3, 6 (bao gồm phụ lục II) và 10 của Hiệp định ADA.

Ngày 11/02/2000, Nhật Bản yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm. Tại cuộc họp ngày 24/02/2000, DSB trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Sau yêu cầu lần thứ hai của Nhật Bản, tại cuộc họp ngày 20/03/200, DSB đã quyết định thành lập Ban Hội thẩm. Các bên thứ ba gồm: Braxin, Canada, Chile, EC và Hàn Quốc. Ngày 09/05/2000, Nhật Bản yêu cầu Tổng giám đốc WTO xác định thành phần Ban Hội thẩm. Ngày 24/05/2000, Ban Hội thẩm chính thức được thành lập. Ngày 28/02/2001, Ban Hội thẩm công bố báo cáo. Nội dung báo cáo như sau:

  • Hoa Kỳ vi phạm Điều 6.8 và Phụ lục II của Hiệp định ADA khi áp dụng “số liệu sẵn có”(facts available) đối với các công ty Kawasaki Steel Corporation (KSC), Nippon Steel Corporation (NSC) và NKK Corporation;
  • Mục 735(c)(5)(A) Bộ luật thuế quan 1930,theo như sửa đổi, qui định Bộ Thương Mại Hoa Kỳ loại trừ biên độ phá giá được tính hoàn toàn dựa trên “số liệu sẵn có”(facts available) để xác định các chỉ số khác - vi phạm Điều 9.4 Hiệp định ADA, do đó vi phạm Điều 184.4 của Hiệp định ADA và Điều XVI:4 Hiệp định Marrakesh.
  • Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 2.1 Hiệp định ADA khi loại trừ doanh số bán hàng nội địa cho các chi nhánh khi tính toán giá trị thông thường của hàng hóa trên cơ sở cuộc kiểm tra“độ dài bàn tay” (arm length). Thêm vào đó, Ban Hội thẩm kết luận việc Hoa Kỳ thay thế doanh số bán hàng này bằng doanh số bán hàng cho người mua không có quan hệ chi nhánh với người bán là vi phạm Điều 2.1 Hiệp định ADA.
  • Đối với những khiếu nại của Nhật Bản không được giải quyết, Ban Hội thẩm kết luận (1) khiếu nại của Nhật Bản không chính đáng theo tập quán chung về “số liệu sẵn có”(facts available), tập quán chung về loại trừ doanh số bán tại thị trường nội địa khi tính toán giá trị thông thường của hàng hóa; (2) với nền kinh tế hành pháp, giải quyết các khiến nại này là không cần thiết hoặc không chính đáng.

Ngày 25/04/2001, Hoa Kỳ kháng án lên Cơ quan Phúc thẩm. Ngày 24/07/2001, Cơ quan Phúc thẩm công bố báo cáo. Nói chung, Cơ quan Phúc thẩm tán đồng các kết luận của Ban hội thẩm, trừ các điểm sau:

  • Cơ quan Phúc thẩm phản đối kết luận của Ban Hội thẩm về việc Hoa Kỳ vi phạm Điều 2.1 Hiệp định ADA khi tính toán giá trị thông thường của hàng hóa sử dụng doanh số bán hàng của các nhà xuất khẩu bị điều tra cho người mua độc lập.
  • Cơ quan Phúc thẩm kết luận rằng Nhật Bản không có đủ chứng cứ khi kiện Hoa Kỳ theo Điều 2.4 Hiệp định ADA khi cho rằng Hoa Kỳ đã không công bằng khi sử dụng doanh số bán hàng khi tính toán giá trị thông thường của hàng hóa.
  • Cơ quan Phúc thẩm phản đối kết luận của Ban Hội thẩm về việc Hoa Kỳ vi phạm Hiệp định ADA khi xác định thiệt hại của ngành sản xuất thép cuộn cán nóng Hoa Kỳ.
  • Cơ quan Phúc thẩm phản đối kết luận của Ban Hội thẩm rằng Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ đã chứng minh được có quan hệ nhân quả, theo Điều 3.5, giữa hàng nhập khẩu phá giá và thiệt hại vật chất của ngành sản xuất nội địa. Tuy nhiên, Cơ quan Phúc thẩm cũng kết luận Nhật Bản không có đủ chứng cứ để kiện Hoa Kỳ về điểm này.

Ngày 23/08/2001, DSB thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của Ban Hội thẩm do Cơ quan Phúc thẩm sửa đổi.

Tình hình thực thi các báo cáo được thông qua
Ngày 20/11/2001, Nhật Bản đề nghị trọng tài xác định một khoảng thời gian hợp lý để Hoa Kỳ thực thi các khuyến nghị của DSB theo Điều 21.3(c) của DSU. Hai bên thống nhất trọng tài đưa ra phán quyết trước ngày 19/02/2002. Ngày 19/02/2002, trọng tài tuyên bố khoảng thời gian hợp lý cho Hoa Kỳ là từ ngày 23/08/2001 đến ngày 23/11/2002 (15 tháng).

Tại cuộc họp ngày 01/10/2002, Hoa Kỳ công bố báo cáo về tình hình thực thi khuyến nghị của DSB, trong đó nêu chính quyền Hoa Kỳ đang thực hiện các bước ban đầu nhằm thực thi các khuyến nghị. Theo khuyến nghị, Bộ thương mại Hoa Kỳ đã điều chỉnh qui trình kiểm tra“độ dài bàn tay” (arm length) và sẽ áp dụng qui trình kiểm tra mới này cho các sản phẩm thép nóng bị điều tra theo vụ kiện này. Hoa Kỳ cam kết trong tương lai sẽ áp dụng qui trình kiểm tra mới này trong qui trình điều tra chống bán phá giá. Hoa Kỳ cũng tuyên bố chính quyền nước này đang xin tư vấn Quốc hội về giải pháp giải quyết tranh chấp này.
Nhật Bản bày tỏ quan ngại Hoa Kỳ sẽ không thể hoàn tất được các khuyến nghị đúng hạn khi cho rằng báo cáo của Hoa Kỳ chỉ đề cập tới động thái của Bộ thương mại và Quốc hội nhằm thực thi khuyến nghị trong khi chính Ủy ban thương mại quốc tế mới là đối tượng thực thi luật pháp Hoa Kỳ vi phạm các nghĩa vụ theo WTO. Nhật Bản thúc giục Hoa Kỳ đẩy nhanh thực thi các khuyến nghị và tuyên bố sẽ giám sát chặt chẽ điều này. EC cũng thúc giục Hoa Kỳ đẩy nhanh hành động.
Tại cuộc họp ngày 11/11/2002, Hoa Kỳ công bố báo cáo về tình trạng thực thi khuyến nghị của DSB. Trong đó có nêu chính quyền Hoa Kỳ đang thực hiện các bước ban đầu nhằm thực thi các khuyến nghị. Theo khuyến nghị, Bộ thương mại Hoa Kỳ đã điều chỉnh qui trình kiểm tra“độ dài bàn tay” (arm length) và sẽ áp dụng qui trình kiểm tra mới này cho các sản phẩm thép nóng bị điều tra theo vụ kiện này. Hoa Kỳ cam kết sẽ áp dụng qui trình kiểm tra mới này qui trình điều tra chống bán phá giá trong tương lai. Hoa Kỳ cũng tuyên bố chính quyền nước này đang xin tư vấn Quốc hội về giải pháp giải quyết tranh chấp này. Nhật Bản nhắc lại thời hạn thực thi khuyến nghị của Hoa Kỳ chậm nhất là ngày 23/11/2002 và bày tỏ quan ngại Hoa Kỳ có thể không hoàn tất được các khuyến nghị đúng hạn do báo cáo của Hoa Kỳ chỉ đề cập tới động thái của Bộ thương mại và Quốc hội nhằm thực thi khuyến nghị trong khi chính Ủy ban thương mại quốc tế mới là đối tượng thực thi luật pháp Hoa Kỳ vi phạm các nghĩa vụ theo WTO. Nhật Bản thúc giục Hoa Kỳ đẩy nhanh thực thi các khuyến nghị và tuyên bố sau thời hạn này, nếu Hoa Kỳ chưa hoàn tất, Nhật Bản sẽ đề nghị đình chỉ đàm phán và các nghĩa vụ khác theo Điều 22.2 của DSU.

Ngày 22/11/2002, Hoa Kỳ yêu cầu DSB gia hạn thời gian thực hiện khuyến nghị tới ngày 31/12/2003 hoặc ngày kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội, tùy ngày nào diễn ra trước. Hoa Kỳ tin tưởng với thời gian gia hạn thêm này sẽ tạo điều kiện cho hai bên tìm ra được giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp.
Tại cuộc họp ngày 28/11/2002, Hoa Kỳ thông báo Bộ thương mại Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết cuối cùng mới cho cuộc điều tra này. Về các khuyến nghị đối với luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, chính quyền đang tiếp tục cùng với Quốc hội tìm ra giải pháp thống nhất nhằm giải quyết tranh chấp. Cuối cùng, Hoa Kỳ tham vấn với Nhật Bản và hai bên đã thống nhất gia hạn thời gian thực hiện khuyến nghị tới ngày 31/12/2003 hoặc ngày kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội, tùy ngày nào diễn ra trước. Nhật Bản bày tỏ thất vọng về việc Hoa Kỳ không hoàn tất khuyến nghị trong khoảng thời gian đã cam kết và cho rằng điều này làm giảm uy tín của cơ chế giải quyết tranh chấp. Nhật Bản tuyên bố có thể sẽ đồng ý gia hạn cho Hoa Kỳ nhưng vẫn mong muốn Hoa Kỳ sớm hoàn tất. Nhật Bản bảo lưu quyền có những hành động thích hợp trong trường hợp Hoa Kỳ không tuân thủ.

Tại cuộc họp ngày 02/12/2002, DSB đồng ý cho Hoa Kỳ gia hạn thời gian thực thi khuyến nghị. Tại cuộc họp ngày 27/01/2003, Hoa Kỳ đệ trình báo cáo trong đó nhắc lại tuyên bố trước đó của mình về việc đã đưa ra phán quyết cuối cùng mới cho cuộc điều tra chống bán phá giá thép cuộn cán nóng mà theo Hoa Kỳ là đã thực thi các khuyến nghị của DSB về việc tính toán biên độ phá giá. Hoa Kỳ cũng cho hay sẽ làm việc với Quốc hội để tìm ra giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp. Nhật Bản bày tỏ thất vọng về việc Hoa Kỳ không hoàn tất khuyến nghị trong khoảng thời gian đã cam kết và cho rằng điều này làm giảm uy tín của cơ chế giải quyết tranh chấp. Nhật Bản hối thúc Hoa Kỳ đẩy nhanh hành động và làm việc với Quốc hội nhằm sớm tìm ra giải pháp.

Tại cuộc họp ngày 02/10/2003, Hoa Kỳ đệ trình báo trong đó nêu đang tiếp tục cùng với Quốc hội tìm kiếm giải pháp nhằm thực thi các khuyến nghị của DSB về luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ. Chính quyền đang nỗ lực thuyết phục Quốc hội thông qua luật chống bán phá giá sửa đổi theo khuyến nghị của DSB. Nhật Bản hối thúc Hoa Kỳ hoàn tất các khuyến nghị trước khi phiên họp đầu tiên của Quốc hội thứ 108 kết thúc và làm việc cụ thể với Nhật Bản về cách thức và thời gian thực hiện các khuyến nghị.

Tại cuộc họp ngày 07/11/2003, Hoa Kỳ tuyên bố đang nỗ lực thuyết phục Quốc hội thông qua luật chống bán phá giá sửa đổi theo khuyến nghị của DSB. Nhật Bản nhấn mạnh thời gian thực hiện khuyến nghị sắp kết thúc nhưng Quốc hội vẫn chưa thông qua sửa đổi luật. Đồng thời, Nhật Bản khuyến khích Hoa Kỳ tham vấn với Nhật Bản về cách thức thực thi các khuyến nghị. Ngày 21/11/2003, Hoa Kỳ đề xuất lên chủ tịch DSB gia hạn thời gian thực thi khuyến nghị tới ngày 31/07/2004 và sẽ tham vấn với Nhật Bản về vấn đề này. Ngày 30/07/2004, Hoa Kỳ đề xuất lên DSB gia hạn thời gian thực hiện khuyến nghị tới ngày 31/07/2005 và sẽ tham vấn với Nhật Bản về vấn đề này. Tại cuộc họp ngày 31/08/2004, DSB chấp thuận gia hạn thời gian thực hiện khuyến nghị cho Hoa Kỳ.

Ngày 07/07/2005, các bên đệ trình lên DSB Bản ghi nhớ theo đó Nhật Bản sẽ sử dụng quyền đình chỉ đàm phán và các nghĩa vụ khác theo Điều 22.6 Hiệp định DSU tại bất kỳ thời điểm nào mà Hoa Kỳ sẽ không có quyền phủ quyết theo qui định trong câu đầu tiên của Điều 22.6 Hiệp định DSU.